Hoàng Diệu
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một vị quan, chí sĩ yêu nước thời Nguyễn: "Hoàng Diệu" là tên một vị quan thanh liêm, nổi tiếng vì lòng yêu nước và đã tuẫn tiết để giữ thành Hà Nội trước sự tấn công của quân Pháp năm 1882.
- Một nhân vật lịch sử: "Hoàng Diệu" chỉ một con người cụ thể trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 19, có công lao và sự hy sinh được ghi nhận.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Tượng đài Hoàng Diệu được đặt tại nhiều nơi để tưởng nhớ công ơn của ông.
- Tinh thần yêu nước của Hoàng Diệu là tấm gương sáng cho hậu thế.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tinh thần Hoàng Diệu": cụm từ dùng để chỉ khí phách kiên trung, quyết tử để bảo vệ đất nước, lấy cảm hứng từ sự hy sinh của ông.
- Các chiến sĩ đã chiến đấu với tinh thần Hoàng Diệu, quyết không lùi bước trước kẻ thù.
"Theo gương Hoàng Diệu": hành động noi theo đức tính thanh liêm, tận trung với nước của ông.
- Thanh niên ngày nay cần phải theo gương Hoàng Diệu, sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Biến thể và từ liên quan
- Thượng thư Hoàng Diệu: cách gọi trang trọng, nhấn mạnh chức vụ Thượng thư bộ Binh của ông.
- Tổng đốc Hoàng Diệu: cách gọi nhấn mạnh chức vụ Tổng đốc Hà Ninh của ông lúc hy sinh.
- Cụ Hoàng Diệu: cách gọi kính trọng, thân mật.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
- Hoàng Kim Tích: tên cũ của ông trước khi đổi thành Hoàng Diệu.
- Tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai: tên tự và tên hiệu của Hoàng Diệu.
Địa danh / Công trình mang tên
- Đường Hoàng Diệu: tên nhiều con đường tại các thành phố ở Việt Nam được đặt để vinh danh ông.
- Trường Hoàng Diệu: tên một số trường học được đặt theo tên ông.
- Phố Hoàng Diệu: tên phố cổ ở Hà Nội, gần khu vực thành cổ nơi ông tuẫn tiết.
- (Mậu tí 1828 - Nhâm ngo 1882)
- Chí sĩ yêu nước, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay tuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Trước vốn tên Hoàng Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu. Ông sinh ngày 10 tháng2 năm Mậu tí 1828, đỗ cử nhân khoa Mậu thân 1848 và phó bảng khoa Quý sửu 1853, lúc 25 tuổi
- Sơ bổ Tri huyện Tuy Phước (Bình Định), rồi thăng Tri phủ Tuy Viễn cũng trong tỉnh Bình Định. Sau đó ông phải giáng, đổi về Tri huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. ít lâu thăng Tri phủ Lạng Giang (Bắc Giang), án sát Nam Định, rồi Bố chính Bắc Ninh. Ông nổi tiếng công minh và thanh liêm. Suốt 30 năm làm quan nhiều nơi, cảnh nhà vẫn thanh bạch, nghèo túng
- Đến năm Đinh sửu 1877, ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, qua Tham tri bộ Lại, coi viện Đô sát và dự vào viện Cơ mật. Năm sau, làm Tuần vũ Quảng Nam, rồi làm Tổng đốc An Tịnh. Chẳng bao lâu ông được triều đình ủy nhiệm chức Phó toàn quyền Đại thần để hiệp thương với sứ bộ Y Pha Nho (Tây Ban Nha)
- Canh thìn 1880, ông làm Tổng đốc Hà Ninh, lãnh chức hàm Thượng thư bộ Binh, gồm coi cả việc thương chính
- Đầu năm Nhâm ngọ 1882, đại tá Pháp Henri Rivière đem quân ra cướp miền Bắc, lấy cớ bảo vệ sinh mạng và tài sản Pháp kiều. Ông bất bình, chuẩn bị đề phòng và sẵn sàng đối phó mọi bất trắc, đột biến do quân Pháp âm mưu gây ra
- Quả nhiên, lúc 5 giờ ngày 8 tháng 3 Nhâm ngọ (25 tháng 4 -1882) H. Rivière sai thông dịch viên tên Phong đưa tối hậu thơ, yêu sách 3 điều:
- - Phá các tạo tác phòng thủ trong thành
- - Giải giới binh lính
- - Đúng 8 giờ các vị tổng đốc tuần phủ, bố chính, án sát và chánh, phó lãnh binh phải thân đến trình diện tại dinh đại tá. Sau đó, quân Pháp sẽ vào thành kiểm kê. Xong sẽ giao trả thành lại. Ông tiếp tối hậu thư, phẫn uất sai Tôn Thất Bá đi điều đình. Nhưng không đợi trả lời, lúc 8 giờ 15 Rivière tấn công với số quân 450 người và một ít thân binh, có 4 tàu chiến yểm trợ: La Fanfare, La Massue, La Hache, La Surprise (tàu này không kịp tới, vì mắc cạn dọc đường Hải Phòng đi Hà Nội)
- Trước hoả lực của quân cướp nước, Hoàng Diệu quyết liệt đối phó. Ông chỉ huy quân sĩ chống cự ở cửa Bắc. Trong khi ấy Tôn Thất Bá chạy trốn vào làng Mọc (Nhân Mục) ở phía Đông Nam Hà Nội theo giặc
- Một lát sau, kho thuốc súng trong thành nổ, do Pháp thuê Việt gian đốt (có sách nói là Tôn Thất Bá đã làm nội tuyến cho địch)
- Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh và các lãnh binh bỏ thành chạy, còn Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung
- Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 50 tuổi. Sĩ tử Hà thành điếu ông
- Hoàng Hữu Xứng, Võ Trọng Bình, Trần Đình Túc đều có thơ, liễn cảm niệm ông và ngậm ngùi thân phận họ. (X. Hoàng Hữu Xứng, Trần Đình Túc,Võ Trọng Bình)